
Albert Camus đạt giải Nobel văn học năm 1957 [1] với nhiều tác phẩm chuyển tải triết lý về sự vô nghĩa (absurdity) của đời người. Nhưng tài tình là triết lý này không mang lại cảm giác tiêu cực, mà lại truyền cảm hứng tích cực giải phóng con người, để mỗi người sống đời mình một cách trọn vẹn hơn!
Bạn đừng cố gắng đi tìm ý nghĩa của đời mình, cũng đừng cố gắng sống theo những hình mẫu, những lý tưởng do xã hội đặt ra! Jean-Paul Sartre, triết gia hiện sinh nổi tiếng, và cũng là bạn tri kỷ của Camus, đã sử dụng một hình tượng rất hay để minh họa cho triết lý này. Trong quyển Thuyết hiện sinh là một thuyết nhân bản [2], ông nói về con dao rọc giấy. Người thợ đã xác định rõ mục đích và đặc tính của con dao từ trước khi chế tạo nó. Bản chất này định đoạt nó là cái gì và hoạt động như thế nào trong suốt vòng đời sản phẩm. Con người thì không như vậy, không phải là một đồ vật được tạo ra bởi một Thượng đế hay một nhà thiết kế vĩ đại! Chúng ta không có bản chất (essence), không mục đích, không đặc tính được định sẵn như con dao rọc giấy. Con người được ném vào thế giới một cách ngẫu nhiên. Chúng ta đơn giản là hiện hữu (exist) trước rồi sau đó thông qua lựa chọn, hành động và trải nghiệm để tự định nghĩa mình! Sartre đúc kết điều này bằng câu nói nổi tiếng “Existence precedes essence” - Hiện hữu có trước bản chất [3]. Bởi vậy, đừng để ai, đừng để bất cứ điều gì thuyết phục bạn là phải sống như thế nào. Hãy cứ sống một cách tự do theo suy nghĩ và hoàn cảnh riêng của mình! Vũ trụ này không có sẵn hình mẫu, quy ước để bạn nhìn theo mà sống đâu.
Và thậm chí cũng đừng tự hạ thấp mình, trở thành một sinh vật nhỏ bé trong vũ trụ như quan niệm triết học cổ điển Plato, Aristotle! Triết học hiện sinh của Camus và Sartre chỉ xem vũ trụ là thứ yếu. Thay vào đó họ đề cao thân phận, sự hiện hữu bây-giờ-và-ở-đây của con người. Ngay trang đầu của Thần thoại Sisyphus, Albert Camus đã viết “Những vấn đề còn lại, như thế giới này có phải không gian 3 chiều hay không, rồi tinh thần được xếp loại thành chín hay mười hai loại khác nhau, đều là thứ yếu…” [4] Hãy cứ quan niệm rằng nếu không có tôi thì sẽ không có vũ trụ! Vũ trụ không có ý nghĩa tự thân, mà chỉ là sự quan sát của tôi! Sự hiện hữu của tôi là trung tâm, mang tính quyết định cao nhất. Khi tôi chết đi, thì không đơn giản là vũ trụ mất đi một sinh vật nhỏ bé, mà có khi cả vũ trụ này cũng không còn tồn tại! Vật lý hiện đại và triết lý Phật giáo cũng chia sẻ quan điểm này: vũ trụ không tồn tại một cách khách quan mà phụ thuộc vào sự quan sát chủ quan của chúng ta!
Phật Gautama (Cồ Đàm hoặc Như Lai), như kinh sách ghi chép lại, cũng không để tâm nhiều tới vũ trụ nói riêng và những vấn đề siêu hình (metaphysics) nói chung. Đức Phật nhấn mạnh là cần tập trung vào cuộc sống bây-giờ-và-ở-đây của thân phận con người, tập trung vào việc làm sao nhận diện và diệt trừ khổ đau. Tiểu kinh Malunkya [5][6] có ghi chép việc Tôn giả Malunkyaputta cứ gặng hỏi Đức Phật những câu hỏi siêu hình như:
- Vũ trụ có trường tồn hay không, là vô biên hay có giới hạn?
- Linh hồn và thể xác có là một hay không?
- Sau khi chết đi, Người còn tồn tại hay không? Hay là vừa tồn tại vừa không tồn tại? Hay là chẳng có cả hai trạng thái này?
Phật Gautama đã từ chối trả lời những câu hỏi siêu hình này, bằng cách dùng hình ảnh ẩn dụ của một người bị trúng tên độc. Người này không chịu cho thầy thuốc rút mũi tên ra để chữa trị, mà cứ liên tục đặt câu hỏi, rằng thầy thuốc đến từ đâu, có thuộc tầng lớp cao quý trong xã hội hay không, người bắn là ai, cái cung tên bắn anh ta nó như thế nào… Những điều đó Đức Phật không trả lời! “Vì sao điều ấy Ta không trả lời? Này Malunkyaputta, vì điều ấy không liên hệ đến mục đích, điều ấy không phải là căn bản Phạm hạnh, điều ấy không đưa đến yểm ly, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn, cho nên điều ấy Ta không trả lời” [5]. Đức Phật chỉ trả lời cho Tôn giả cách nào để thoát khổ, trừ bỏ tham sân si, tập trung vào chánh niệm bây-giờ-và-ở-đây, trong đời sống này!
Có vẻ như cả Triết lý hiện sinh và Triết lý nhà Phật đều khuyên ta đừng mãi đi tìm ý nghĩa cao cả xa vời của cuộc sống này. Ngay cả đến vũ trụ cũng còn không có ý nghĩa tự thân kia mà! Một người đi tìm ý nghĩa cuộc đời mình, thế nào rồi cũng sẽ thất vọng, khi đối diện với sự vô nghĩa lạnh lùng của cuộc sống, của vũ trụ! Hãy quay vào bên trong, tự mình định nghĩa cuộc đời mình, không giới hạn, không sợ hãi. Tự thắp đuốc lên mà đi, trên dặm dài tối đen của sự vô nghĩa, trên hành trình kỳ lạ mà ai cũng biết là sẽ có điểm kết thúc-cái chết, nhưng cả nhân loại chưa từng một ai hiểu về nó trọn vẹn, tự trải nghiệm và mô tả về nó cho chúng ta!
Tuy biết rằng cuộc đời và vũ trụ là vô nghĩa, nhưng chúng ta vẫn phải tiếp tục sống! Sống như Sisyphus đang chịu hình phạt. Đẩy tảng đá lên đỉnh đồi rồi nhìn nó lăn xuống, lại tiếp tục xuống chân đồi đẩy lên, hết ngày này qua ngày khác, không được phép ngưng nghỉ! Rất giống kiểu vòng lặp métro-boulot-dodo (đi tàu điện-làm kiếm tiền-về nhà ngủ) quanh năm suốt tháng của thị dân Paris thời Camus! Nhưng đó chỉ là hình ảnh nhàm chán mà người bên ngoài nhìn thấy, còn bên trong chúng ta, những người đã cảm nhận được Camus và Phật Gautama, mọi việc đã không còn như cũ. Chúng ta vẫn sống giữa cuộc đời, nhưng đã đoạn tuyệt với cách sống cũ, để chuyển qua sống một cuộc đời tự do tuyệt đối, một cuộc đời phản kháng (Camus dùng từ révolté) không cần quan tâm tới những giáo điều, những hình mẫu, những tiêu chuẩn của một thế giới vô nghĩa! Hãy sống một cách kiêu hãnh vì giữa cái vũ trụ vô tri này, bạn là sinh vật duy nhất có khả năng nói "Không" với số phận và tự viết nên kịch bản cho đời mình. Sống quyết liệt như vậy thì mới có thể hình dung rằng Sisyphus lưu đày đang hạnh phúc [7].
- Hoàng Quân, tháng Giêng năm Bính Ngọ 2026 -
[1] The Nobel Prize, Nobel Prize in Literature 1957, truy cập 15 tháng 02 năm 2026 https://www.nobelprize.org/prizes/literature/1957/summary/
[2] Jean-Paul Sartre (1946), L’existentialisme est un humanisme, pp. 25-27, Éditions Gallimard
[3] Jean-Paul Sartre, sđd, p. 21. Nguyên văn Sartre viết bằng tiếng Pháp “"L'existence précède l'essence"
[4] Albert Camus (1942), Le Mythe de Sisyphe, p. 1, Éditions Gallimard. Nguyên văn Camus viết bằng tiếng Pháp “Le reste, si le monde a trois dimensions, si l’esprit a neuf ou douze catégories, vient ensuite”
[5] Thư viện Hoa sen, Tiểu kinh Màlunkyà, truy cập 15 tháng 02 năm 2026 https://thuvienhoasen.org/a883/63-tieu-kinh-malunkya-cula-malunkya-sutta
[6] Sutta Central, Middle Discourses 63 The Shorter Discourse With Māluṅkyaputta, truy cập 15 tháng 02 năm 2026 https://suttacentral.net/mn63/en/sujato
[7] Albert Camus, sđd, p. 47. Nguyên văn Camus viết bằng tiếng Pháp “Chacun des grains de cette pierre, chaque éclat minéral de cette montagne pleine de nuit, à lui seul, forme un monde. La lutte elle-même vers les sommets suffit à remplir un coeur d’homme. Il faut imaginer Sisyphe heureux.”
Bản gốc tiếng Anh của Tuyên ngôn này được đăng năm 2014 trên Explore: The Journal of Science and Healing của Elsevier - một trong những nhà xuất bản ấn phẩm khoa học lớn nhất thế giới [2] và trên NCBI - tổ chức nghiên cứu Y sinh trực thuộc Bộ Y tế Mỹ [3].
Khoa học duy vật vốn tuân thủ nghiêm ngặt (đến mức cực đoan) nguyên tắc thực chứng, đã đưa đến những phát triển vượt bậc và vững chắc cho loài người các thế kỷ gần đây. Thành tựu y học, máy móc động cơ, thông tin liên lạc, tàu vũ trụ, năng lượng hạt nhân…là những minh chứng vĩ đại. Không có tính nghiêm ngặt và đáng tin cậy của khoa học duy vật thì mấy ai dám banh tròng mắt ra để bác sỹ gọt bớt chữa trị bệnh cận thị, bạn nào dám lái cái hộp sắt chạy 100-200km/h vun vút trên đường cao tốc ?
Tuy nhiên, triết lý duy vật của khoa học, với cách tiếp cận cứng nhắc của mình, đã hạn chế sự khám phá của loài người trong nhiều lĩnh vực ! Chúng ta cần có cách tiếp cận khác, gọi là Hậu duy vật (Post-materialism). Ít nhất là phải có vai trò ngang bằng giữa ý thức và vật chất.
Một ví dụ kinh điển là câu hỏi « Một cái cây lớn bị đổ trong rừng sâu, và chẳng có ai trong rừng, thì nó có tạo ra âm thanh không ? » [4]. Không có người quan sát thì không có xương búa, màng nhĩ tai, thì không tồn tại cái gọi là âm thanh cây bị đổ!
Một ví dụ hiện đại hơn là vật lý lượng tử. Với các hạt như electron, chúng ta không thể tính toán/mô phỏng để biết trước được, tại một thời điểm nào đó, nó đang ở vị trí nào trong không gian, mà chỉ đến lúc quan sát mới biết. Trong hệ thống lượng tử, các hạt có nhiều trạng thái/mức năng lượng khác nhau, nó chỉ được xác định khi có tương tác từ thế giới bên ngoài hoặc được quan sát. Các vi hạt và người quan sát chúng (nhà vật lý và phương pháp quan sát) có liên hệ với nhau. Để đơn giản hóa, tưởng tượng nhà bạn có cái đĩa sứ trong tủ chén bát sắp rơi, may nhờ cái cửa tủ chận lại ; nếu bạn không quan sát (không mở tủ) thì cái đĩa còn nguyên ; nếu bạn quan sát (mở cửa tủ ra nhìn) thì cái đĩa không còn nguyên nữa :))) Nó cũng giống như trạng thái của 1 hệ thống lượng tử vậy, tại 1 thời điểm có thể vừa ở trạng thái này, vừa ở trạng thái khác, tùy thuộc vào người quan sát!
Tóm lại là thế giới này không chỉ phụ thuộc duy nhất vào vật chất, mà còn phụ thuộc vào chủ quan của người quan sát (ý thức). Với cách tiếp cận rộng mở này thì hy vọng hiểu thêm những vấn đề của vật lý hiện đại,thế giới phi vật chất, cái gì sau cái chết...
Mình đã từng phát biểu là Science is not enough. Sau khi đọc bài này thì phải phát biểu lại cho chính xác là Materialist science is not enough :)))
(Nguồn ảnh: https://me.me/i/schrodinger-plates-theyre-both-broken-and-not-broken-until-you-1335365ea6954921a82d2e8c4a603508 )
-----
[1] https://www.chungta.com/nd/tu-lieu-tra-cuu/tuyen-ngon-ve-mot-nen-khoa-hoc-hau-duy-vat.html
[2] https://arizona.pure.elsevier.com/en/publications/manifesto-for-a-post-materialist-science-2
[3] https://www.ncbi.nlm.nih.gov/m/pubmed/25088379/
[4] Robert Lanza (2009), Biocentrism: How Life and Consciousness are the Keys to Understanding the Universe, Benbella Books
